Hương Ca Phạm Duy

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Khởi sự hương ca

Nhiều lần lắm rồi tôi muốn cầm bút viết về Hương ca, nhưng cứ chần chừ vì trong cảm giác của tôi vẫn còn lấn cấn nhiều thứ ngổn ngang. Tầm vóc của Hương ca quá lớn, làm cho người muốn viết phải chồn bút.

Ngay từ ngày đầu khai sinh ra Hương ca, nhạc sĩ Phạm Duy đã giới thiệu về nguồn gốc của chùm ca khúc này. Từ bài thơ của thi sĩ Lưu Trọng Văn với nhan đề Trăm năm bến cũ, đã gợi mở lời mời chào về quê cho người tình già. Về quê để nối lại hương ca.

Nhưng thật ra theo tôi, Hương ca đã khởi sự từ những ngày đầu của nghiệp cầm ca mà người nhạc sỹ đã vận vào mình. Bởi thế, nhạc của Phạm Duy đã khóc cười theo mệnh nước nổi trôi  trong suốt hơn nửa thế kỷ qua. Tiếng khóc tiếng cười của quê hương ám ảnh nhạc của ông và tâm hồn ông nên mặc dù nhạc Phạm Duy có nhiều mảng đề tài khác nhau nhưng tất cả đều chỉ quy về quê hương và dân tộc. Từ tâm ca, tâm phẫn ca, các trường ca, tổ khúc và đỉnh cao là minh họa Kiều đều có chung một nội dung và mục đích là ca tụng nét đẹp muôn thủa và giản dị của dân tộc, quê hương.

Về thời gian, có lẽ Hương ca là sự kế tục và phát triển đoạn kết của Tổ khúc bầy chim bỏ xứ. Hãy nghe Bầy chim bỏ xứ với chùm đoản khúc Bầy chim huyền sử  và Bầy chim hồi xứ. Hãy gạt qua tất cả mọi định kiến chính trị, Bầy chim bỏ xứ cho dù đã xa xứ vẫn canh cánh giấc mơ hồi xứ. Vì thế mà con chim Hòang hạc Phạm Duy đã nghe được từ sâu thẳm tiếng chim huyền sử bốn ngàn năm văn hiến của cha ông. Ông đã cất lên bằng ngôn ngữ âm nhạc hiện đại kết hợp vối tiết tấu của âm sắc dân tộc những tiếng âm ba của cha ông bằng các dấu tích lịch sử. Vậy là, Phạm Duy đã nghe được hương ca từ lâu rồi chứ đâu phải là chỉ đến khi có tiếng nói của một ai. Hương ca đã sống và ấp ủ tận cùng trái tim Phạm Duy từ khi xa xứ chứ đâu phải từ khi ông có ý định hồi xứ.

Phân tích về nguồn gốc của Hương ca có ý nghĩa rất lớn trong việc làm rõ tính dân tộc trong âm nhạc Phạm Duy trải dài của cuộc đời sáng tác của ông và cũng làm cho ra ngọn ngành tâm hồn rất đẹp của người nhạc sỹ này cho dù có ai đó muốn vấy những gì của họ vào tư cách nhạc sỹ của Ông. Có lẽ bài thơ của Thi sĩ Lưu Trọng Văn có một giá trị khá lớn tạo ra bước ngoặt trong cuộc sống và trong nhận thực hồi xứ của Phạm Duy. Tuy nhiên, đó chỉ đơn giản là giọt nước cuối cùng đong đầy ước mơ quy hương của người tình già. Và dưới góc độ của hương ca, bài thơ đã thực sự có ý nghĩa trong việc họạch định hướng sáng tác của Phạm Duy. Điều này cho thấy giá trị của tác phảm thi ca trong việc hình thành chùm sáng tác mới của Phạm Duy. Tuy nhiên nều nói nó là căn nguyên của Hương ca thì tôi cho rằng chưa phải, phải nói là Tình ca và tình yêu quê của Phạm Duy mới là nguồn của 10 bài Hương Ca.

Bên cạnh đó, Hương ca còn có một nguồn hình thành nữa đó là tình yêu bất diệt của người nhạc sĩ đa tình. Tôi ngạc nhiên lắm khi Phạm Duy đã gần 90 mà vẫn đằm thắm trong tình yêu. Những lần nói chuyện với ông tôi nhận thấy rõ điều này. Cả 10 bài hương ca đầy ắp những chuyện tình. Cho dù khởi sự từ Trăm năm bến cũ nhưng ở bến cũ luôn có các o đò chờ Phạm Duy. Dù muốn trầm mình xuống cả bãi sông sâu những sự vùng vẫy đó cũng đổ đầy chuyện tình và ký ức của tình yêu Phạm Duy; lại nữa, khi đi vào lịch sử khám phá vùng đầy tâm nam bộ bằng hình ảnh hương rừng cà mau, Phạm Duy cũng gợi ra những chuyện tình thật đẹp của lịch sử như câu chuyện lục vân tiên, những điệu độc huyền…. Tình yêu dường như bất diệt trong Phạm Duy và đó là một nguồn cảm hứng về quê hương. Thật ra, có nhiều ý tưởng (tôi không dùng từ tư tưởng) đã tô cho cái tình yêu quê hương những ý tưởng cao đẹp, vượt xa cả cái bình thường hằng ngày và trở thành như một tôn giáo vô hình. Phạm Duy không thế, ngày từ đầu của sự nghiệp những hình đơn sơ của bà mẹ Gio Linh, những bác nông phu đội sương nắng và cả tấm áo nâu nghèo nàn đã là những niềm vui và khởi đầu cũng như minh chứng đắm thắm cho tình yêu quê hương của Phạm Duy. Những cuộc tình nhẹ nhàng và đầy kỷ niệm của ông cũng đã giúp cho biết bao nhiêu địa danh của Việt Nam trở thành điểm son trong âm nhạc. Nha trang ngày về  là một ví dụ. Vì thế, khởi đầu là tình yêu, kết thúc cũng là sự tô đẹp tình yêu cùng với tình quê.

Nói tóm lại Hương ca khởi sự từ tận cùng trong tâm hồn và trái tim của Phạm Duy.

2. Hướng sáng tác và giá trị của Hương Ca.

Nội dung của hương ca giản dị và tươi đẹp như tên gọi của nó. Đó là tập hợp 10 tác phẩm phổ từ thơ của nhiều thi sỹ qua nhiều thế hệ. Tất cả vẽ ra những kỷ niệm và hiện thực thật đẹp và vui tươi cũng như đầy tự hào của đất nước. Với hướng đó, hương ca đã làm được những giá trị sau:

Thứ nhất : Tôn vinh các thi sĩ – tinh hoa của đất nước bằng cách làm đẹp hơn tác phẩm của họ bằng giai điệu trong tâm hồn của người nhạc sỹ và người nghe nhạc. Qua đó tôn vinh giá trị cao đạp của dân tộc.

Thứ hai : Khẳng định tòan bộ gia tài âm nhạc của Phạm Duy, dù theo nhiều hướng khác nhau nhưng trọn vẹn vẫn chỉ là tình quê và tình yêu;

Thứ ba : Khẳng định tài năng bất tử và tư tưởng trong sáng của nhạc sỹ, bởi lẽ trong đời ông đã rất nhiều lần và qua nhiều tác phẩm Phạm Duy đã tôn vinh nhiều thi sĩ. Một lần nữa, vào cuối đời ông cho khán thính giả và người hâm mộ niềm tin vào tài năng của mình.

Thứ tư : Tiếp nối và hòan thành tổ khúc bầy chim hồi xứ.

3. Những thành công của Hương ca.

Mặc dù cho đến nay tôi vẫn chưa được nghe trọn vẹn 10 bài hương ca bởi trong đó có ba bài chưa được thu âm, nhưng có thể từ những bài đã hòan thành việc ca và thu âm, người nghe dễ dàng thấy được sự mỹ mãn trong tác phẩm này qua một số nội dung sau:

Một là, về tiết tấu, hương ca có một tiết tấu rất khỏe, sáng và mở. Đều đó không chỉ thể hiện ở cách hòa âm phối khí mà Duy Cường và Nhật Trung thực hiện mà thể hiện rõ ở cung bậc và cấu trúc cung bậc trong từng bài hát. Hày nghe bài Dạo chiều xuân Hà nội, với tiết tấu nhanh nhưng không vội vàng, Phạm Duy vẽ được cả không gian dạo xuân của các nam thanh nữ tú Hà thành xưa và nay. Tiếp theo hãy nghe bài Hương rừng cà mau có thể nhìn ra khung cảnh mênh mông u tịch của vùng sông nước miền tây. Tất cả các bài trong chùm bài Hương ca đều có định hướng về nhạc lý trẻ, lạ và mới. Âm vực của từng bài có khỏang cách đều và vươn xa tạo ra không gian trong giai điệu và tô đậm nét hồn nhiên vô tư của thời đại mới.

Hai là, mặc dù tác phẩm là sự kế tục bầy chim bỏ xứ khi chúng muốn hồi xứ, nhưng hương ca lại tràn đầy sự lạc quan và đã thóat khỏi những nỗi đau của quá khứ. Điều đó cũng đúng thôi, vì Phạm Duy đã hồi xứ mà. Sự trở về trong háo hức và niềm tin cũng như trong tình yêu đã giúp cho Phạm Duy không chỉ sống lại những kỷ niệm bi tráng của một thời mở cõi và bảo vệ cõi bờ tổ quốc mà còn làm cho ông tô đẹïp thêm những tâm hồn Việt nam bằng sự lạc quan và rộng mở của mình qua âm nhạc. Người nghe thấy được sức sống đang lên của Việt Nam cho dù quá khứ có là gì đi nữa. Những hồi ức đau thương không đáng nhớ đã bị niềm vui của hương ca đẩy lùi vào dĩ vãng.

Ba là, niềm tự hào về một dân tộc và một đất nước mà ông đã phải cách xa về không gian nhưng không xa cách trong tâm tưởng đã được đưa lên một cung bặc mới. Tôi không nói là hương ca đạt đến tuyệt đỉnh của sự tự hào vì trong quá khứ Phạm Duy đã đẩy niềm tự hào của ông lên định cao bằng tình ca và tình hòai hương mà. Ở đây, hương ca tô đẹp trong điều kiện mới của tân nhạc và nhận thực của đời sống bằng giai điệu trẻ, nhanh chứ không rề rà, ca thán. Nói như thế không phải là Phạm Duy đã quay ngoặt con đường và định hướng sáng tác mà ông luôn xưng tụng, mà ngược lại ông vẫn theo con đường của riêng mình. Nhìn về quá khứ để tự hào bằng những bước chân cha ông mở cõi phương nam, những hình ảnh đòan quân mà người lính coi cái chết như giấc ngủ quên đời; rồi lại nhận diện thực tại với những sinh họat đời thường bằng những hình ảnh trong sáng của cô bé bán vé số với tấm lòng và chiếc cặp tóc thơm tho; từ đó vươn về tương lai của mùa xuân tươi sáng. Phạm Duy đã luôn như vậy trong đời minh kể từ tục ca vươn đến đạo ca.

Bốn là, Hương ca đẹp trong ngôn từ và hình ảnh. Vơi tư cách là tác phẩm phổ thơ, Hương ca sử dụng chất liệu từ những câu thơ của các thi sĩ nhưng việc lựa chọn câu nào trong bài thơ phản ánh sự tinh tế của nhạc sỹ. Chưa kể những thêm thắt bằng nhiều câu ca dao, tục ngữ làm tôn thêm ý tứ và vẻ đẹp của thi phẩm. Trong bài Trăm năm bến cũ, PD sử dụng nhiều chất liệu khác nhau nhưng cơ bản vẫn là bài thơ của Lưu Trọng Văn. Như vậy, về cơ bản tác giả đã tôn trọng ý tưởng của thi sĩ và thêm vào đó là tâm trạng của mình qua giai điệu và những câu ca dao gợi nhớ những ký ức thủa xưa trong đời Phạm Duy. Hãy lấy bài Hương rừng cà mau làm ví dụ, Phạm Duy thêm vào thi phẩm những tiếng hú xa xôi, vang vọng từ lòng người hay từ lòng đất linh thiêng, hay từ quá khứ oai hùng và không gian bao la của vùng đất rừng thiêng nước độc. Nghe những tiếng hú oai linh đó thính giả sẽ thấy sự rờn rợn trong cảm giác bởi lịch sử mở đất thấm đẫm máu và nước mắt cha ông.

Với ba nội dung cần viết trên đây, tôi mở đầu cho những cảm giác của mình về hương ca.

Hình ảnh quê hương trong hương ca

Như đã viết ở phần mở đầu, Hương Ca bao trùm cả quá khứ, hiện tại và ước mơ về tương lai hòa hợp, tươi đẹp…. Hương Ca có cả tình quê, tình người và tình yêu. Vì vậy, phát triển tư tưởng và nhạc lý Hương Ca, người nghe theo mạch đó để nhìn và thưởng thức chúng.

Từ những ngày còn xa xứ, Phạm Duy đã có lần mơ đưa người tình về hồi xứ:
…Rồi đây anh sẽ đưa em trở về, về miền quê ta thơm tho mùi lúa, có cầu ao yên giấc ngủ trưa có đồi non êm ái cỏ hoa…, cô lái vẫn chờ…. Trong giấc mơ ấy, những hình ảnh giản dị của quê hương cứ bay vào nhạc của ông một cách dung dị, đằm thắm… và trở thành nỗi niềm của người tình quê không già.

Hình ảnh của quê hương trong Hương Ca hiện lên rõ ràng, dung dị và tràn đầy yêu thương, đó là:

1.Hình ảnh con người

Con người hiện lên trong Hương Ca cũng đâu có sang trọng và hào nhoáng theo kiểu hiện đại, con người vẫn hiện diện giản dị như vốn đã, đang tồn tại trên mảnh đất quê nhà đầy nắng vàng và trong nhạc Phạm Duy hơn 60 năm qua. Ông luôn dùng hình ảnh những con người đi qua lịch sử, từ quá khứ, hiện tại và cả những hình nét mơ màng của tương lai. Con người trong Hương Ca bay từ thi ca vào nhạc Phạm Duy vốn là những người của truyền kỳ lịch sử, của một thời khai hoang mở cõi, Nghe bài Hương Rừng chúng ta có thể cảm nhận được quyết tâm trong ý chí, đơn sơ trong hành trang và thanh thóat trong tâm hồn của con người vươn lên trong lịch sử. Nhớ lại trong gia tài âm nhạc Phạm Duy, có lẽ đã từng có biết bao nhân vật lịch sử sống lại trong mọi giai đọan âm nhạc của người nhạc sỹ tài hoa này. Đó là các bà mẹ của từng giai đọan vừa đẹp vừa kiên cường nhưng cũng đầy nước mặt trong cuộc đời trôi nổi để tiếng ru thóat ngàn năm thành tiếng lòng của dân tộc Việt Nam; đó là những bác nông phu giản dị nhưng kiên cường nuôi dưỡng cả một dân tộc và tạo nên văn hiến vài nghìn năm…; và đến Hương Ca là toàn vẹn một thời mở đất dựng nước. Con người lịch sử trong Hương Ca hào sảng với những âm vang mà Phạm Duy sử dụng vào mỗi cuối câu, âm u vang xa của tiếng rừng sâu thẩm thách thức sức mạnh và ý chí của con người. (cất chòi giữa rừng thiêng a ha,…. Thân không là linh thú u hú…)

Hành trang của con người khai hoang chỉ đơn sơ là những vần thơ Lục vân Tiên và chiếc độc huyền. Chỉ cần sử dụng những âm điệu và vài câu hát, thế là Phạm Duy tô lên những được nét cơ bản của cha ông tâm hồn thật đơn giản nhưng đẹp biết bao. Tâm hồn luôn có thơ và nhạc, đẹp như tiếng mẹ Việt Nam và trong như nước ngọt trải dài khắp vùng đất Nam bộ.

Con người Việt yêu nước Việt cũng thật giản dị, đâu phải là yêu nhưng phố sá đèn đương sáng rực hay là những tòa cao ốc mà chỉ đơn giản là yêu khu rừng, yêu rạch nước thân thường, yêu cả đàn muỗi vo ve… Phạm Duy đã từng đưa ra tuyên khôn như sấm truyền là yêu đất nước, yêu tiếng nước tôi, yêu người nông phu… yêu hết mọi thứ giản dị và đúng là của Việt Nam.

Hình ảnh người thiếu nữ dường như không bao giờ thiếu trong nhạc Phạm Duy. Điều đó cũng dễ hiểu thôi, bởi Phạm Duy là vua nhạc tình mà. Thiếu nữ mà Phạm Duy nói đến cũng thật nhiều hình ảnh, qua nhiều thời kỳ và bằng cả hiện thực lẫn quá khứ. Qúa khứ hiện ra như những kỷ niệm đẹp, gắn liền với cuộc sống và tình yêu của ông trong quá khứ. Và khi đó, hình ảnh thiếu nữ như nguồn căn để Phạm Duy trở lại quê nhà, khởi đầu cho những bài Hương Ca. Trăm năm bến cũ đưa ra các chị em thôn nữ, mỗi người một vẻ thôn nữ chị đã qua cầu thóc láp… thôn nữ út đã lên đòng nào ai biết… tất cả đều là kỷ niệm của một thời niên thiếu và yêu đương. Giai điệu mà ông sử dụng trong bài này nhẹ nhàng như những hình ảnh trong sáng hiện về tận đáy sâu tiềm thức. Những tiếng “a” ngân vang vời cung bậc chơi vơi tạo ra ảo giác trong người nghe… rồi sau đó là những lời nhắc nhở từ câu thơ của thi sĩ mà nhạc sỹ Phạm Duy sử dụng cho chính mình và cho những người quên quê hương cho dù họ đang ở bất cứ nơi nào, kể cả trên chính quê hương.

Người thiếu nữ của quê nhà không chỉ là những kỷ niệm mà còn là hiện tại và trong giấc mơ, Hương Ca xưng tụng cả những sức sống và tình yêu của con người hiện đại. Bài Vô Thường là một ví dụ. Giai điệu của bài hát nhịp nhàng, không vội vàng nhưng không chậm chạp. Giai điệu đó dồn vào âm nhạc hơi thở của hiện đại với những khao khát mới và nhịp điệu mới. Người thiếu nữ trong Hương Ca hiện đại với những đam mê và sắc màu hiện đại như nhịp sống sôi động. Với những hình ảnh sinh động trong tác phẩm Ngựa biển cho thấy được sức sống muôn thủa của nhạc tình Phạm Duy. Trong một lần nói chuyện với ông về Hương Ca, Tôi được ông giới thiệu về tác phẩm này với một sự khoan khoái hiện trên khuôn mặt và cách nói chuyện của nhạc sỹ. Nghe lại bài hát này, dường như trong tâm tưởng của tôi vọng ra qua nhịp điều hình ành của người tình với sự đam mê không dừng. Không chỉ là hình ảnh mà nhịp điệu và tiết tấu cũng như cung bậc hiện đại đã được ông phả vào hồn nhân vật thể hiện đời sống hiện thực của các tác phẩm mà ông phổ nhạc.

2 Hình ảnh quê hương qua những kỷ vật của cuộc sống

Có lẽ với một đất nước mà phía đông là biện xanh, phía tây là dải Trường sơn bất khuất và từ đó có những dòng sông chảy dài đổ ra biển bất tận, mang theo cả tình yêu cả cuộc sống của bao thế hệ thì con sông luôn gắn thật nhiều kỷ niệm và là ước mơ trở về của nhiều người, nhiều nhạc sỹ. Trong thi ca và âm nhạc luôn có hình ảnh của những con sông. Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Trịnh Công Sơn, Văn  Cao… đã biết bao lần xưng tụng những con sông như những người tình, như những dấu tích của những khoảnh khắc không thể quên của đời sống. Khi trở về, có lẽ những khao khát hoà quyện mình vào với dòng nước để sống lại những ngày vô tư cũ có lẽ là dễ hiểu. Nhất là với Phạm Duy.

Quê hương tôi, có con sông đào xinh xắn, nước tuôn trên đồng vuông vắn, lúa thơm cho đủ hai mùa… hay Cho tôi lại một chiều, tôi đi giữa đường quê, hai bên là đồng lúa, xa xa là ngọn tre, thấp thoáng vài con nghé, tiếng nước dưới chân đê… Từ những ngày xa quê khi còn ở Việt Nam, hình ảnh êm đềm và giản dị của con sông đã luôn ẩn hiện trong nhạc của ông, từ tình ca quê hương cho đến tình ca đôi lứa. Hình ảnh đó đã được ông nhân hoá và thậm chí là xưng tụng như tình cảm và sức sống của mẹ Việt Nam bằng chu kỳ thứ ba trong trường ca Mẹ Việt Nam – phần Sông Mẹ. Khi quay lại, Ông đã lột tất cả những gì vướng bận để hoà lại tâm hồn, thể xác trong mẹ Việt Nam. Có người chê những ngôn từ mà Phạm Duy sử dụng khi viết về việc tắm trên sông. Có lẽ không cần bàn đến nhiều bằng ngôn ngữ. Phạm Duy đã lội vào tục ca, rồi sau khi trải nghiệm đớn đau, tủi hờn của tục ca, ông vươn mình lên đến đạo ca… Nhìn như vậy, thì từ ngữ mà ông tả chân qua hình ảnh và thoát thai trong sự thanh thản trên dòng sông có lẽ là điều quá dễ hiểu. Nghe bài Tắm Truồng Sông Trăng, người ta cảm thấy một sự hào sảng của một chàng trai hơn là của một ông lão. Sự ngụp lặn và sung mãn trên sông hiện thực và trên sông thi ca dường như là một tiếng hét vui tương, hào hứng của một thi nhân, một nhạc sỹ đang đến độ tuổi tráng kiện. Nhịp thở khi bơi lội được miêu tả bằng giai điệu và được hình tượng bằng cách phối âm đã làm cho nhạc phẩm thực sự hập dẫn và tượng hình. Đã có rất nhiều lần và có nhiều người ca ngợi khả năng vẽ tranh bằng âm nhạc của Phạm Duy. Một lần nữa nhắc lại về điều đó. Có lẽ do khởi nghiệp từ trường Mỹ Thuật và Kỹ Nghệ nên ông có khả năng vẽ ra được không gian và điểm nhấn của cảnh vật mà nhạc phẩm nói đến. Con người trong tắm truồng sông trăng không phải là người khách của cảnh vật mà là một phần cấu thành của thiên nhiên. Hình ảnh của ông có chiều cao của bầu trời, có điểm nhấn của những vì tinh tú; có độ dài và sâu của dòng sông và đặc biệt là sự chuyển động của con người, kéo theo là ánh trăng xao động, ánh trăng múa hát bởi sự vận động của Phạm Duy. Hình ảnh của cảnh vật lại được thổi vào hơi thở của tình yêu Phạm Duy.

Nguyễn Ngọc Sơn

(2005)

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây
Lời giải:Captcha


Bài Cùng Thể Loại